Thứ Hai, 17/11/2025 - 01:16
Tăng giảm cỡ chữ:

Cách tính mức lương hưu hằng tháng theo Luật Bảo hiểm xã hội

Dưới đây là cách tính mức lương hưu hằng tháng theo Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 (có hiệu lực từ 01/7/2025) và sẽ được áp dụng cho năm 2026, với các điểm chính bạn cần lưu ý.

1. Điều kiện hưởng

Theo Điều 72, Luật Bảo hiểm xã hội 2024, quy định tính lương hưu dựa trên mức bình quân tiền lương của 5 năm cuối áp dụng đối với người lao động thuộc các trường hợp sau:

– Người tham gia BHXH trước ngày 01/01/1995.

– Người lao động có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định (trong các đơn vị hành chính, sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị – xã hội…).

Đối tượng này sẽ áp dụng cách tính lương hưu theo mức bình quân tiền lương 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Trường hợp người lao động tham gia bảo hiểm xã hội theo hai chế độ tiền lương khác nhau thì căn cứ theo quy định tại Khoản 3, Điều 72, Bộ Luật bảo hiểm xã hội 2024.

Cụ thể, nếu người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng áp dụng mức lương do Nhà nước quy định và đồng thời có thời gian đóng theo mức lương do người sử dụng lao động quyết định, thì mức bình quân tiền lương làm căn cứ tính hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội sẽ được xác định trên cơ sở bình quân của toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

Trong đó, tiền lương theo chế độ do Nhà nước quy định sẽ được tính bình quân theo nguyên tắc áp dụng đối với từng giai đoạn tương ứng với mốc thời gian quy định của pháp luật. Trong trường hợp tham gia BHXH trước ngày 01/1/1995 thì tính bình quân 5 năm cuối.

2. Công thức chung tính lương hưu bình quân 5 năm cuối

Lương hưu = Tỷ lệ hưởng lương hưu x Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH

Trong đó các thành phần của công thức trên được quy định chi tiết bên dưới.

3. Xác định tỷ lệ lương hưu và mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH

3.1 Tỷ lệ hưởng lương hưu

Trường hợp người lao động tính lương hưu bình quân 5 năm cuối tức là tham gia BHXH bắt buộc. Căn cứ Điều 99 Luật BHXH 2024, tỷ lệ hưởng lương hưu với người tham gia BHXH bắt buộc như sau:

– Đối với lao động nữ: Người lao động nữ có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội đủ 15 năm được hưởng tỷ lệ lương hưu là 45%. Sau đó, với mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội bổ sung, tỷ lệ này được cộng thêm 2%. Tỷ lệ tối đa hưởng lương hưu là 75%, tương ứng với 30 năm tham gia bảo hiểm xã hội.

– Đối với lao động nam: Người lao động nam có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội đủ 20 năm được hưởng tỷ lệ lương hưu là 45%. Từ năm đóng thứ 21 trở đi, mỗi năm đóng thêm được tính thêm 2%. Mức tối đa hưởng lương hưu là 75%, tương ứng với 35 năm đóng bảo hiểm xã hội.

Trường hợp đặc biệt đối với lao động nam có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm: Mức lương hưu hàng tháng được xác định bằng 40% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với 15 năm đóng; từ năm đóng thứ 16 đến dưới 20 năm, mỗi năm bổ sung được cộng thêm 1% vào tỷ lệ hưởng.

3.2 Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH

Nguyên tắc chung: Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH để tính lương hưu và trợ cấp một lần được quy định tại Điều 72 của Luật BHXH năm 2024 và được chi tiết hóa tại Điều 15 của Nghị định 158/2025/NĐ-CP. Mức này cũng được sử dụng để tính hưởng BHXH một lần, trợ cấp tuất một lần và trợ cấp hằng tháng cho người không đủ điều kiện hưởng lương hưu.

Cách tính đối với người lao động theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định

Trường hợp có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ lương Nhà nước:

Việc tính bình quân tiền lương sẽ dựa trên số năm đóng BHXH cuối cùng trước khi nghỉ hưu, theo một lộ trình cụ thể:

– Tham gia BHXH trước 01/01/1995: Tính bình quân của 05 năm cuối.

– Tham gia từ 01/01/1995 đến 31/12/2000: Tính bình quân của 06 năm cuối.

– Tham gia từ 01/01/2001 đến 31/12/2006: Tính bình quân của 08 năm cuối.

– Tham gia từ 01/01/2007 đến 31/12/2015: Tính bình quân của 10 năm cuối.

– Tham gia từ 01/01/2016 đến 31/12/2019: Tính bình quân của 15 năm cuối.

– Tham gia từ 01/01/2020 đến 31/12/2024: Tính bình quân của 20 năm cuối.

– Tham gia từ 01/01/2025 trở đi: Tính bình quân của toàn bộ thời gian đóng BHXH.

Các trường hợp đặc biệt:

Làm công việc nặng nhọc, độc hại: Người có đủ 15 năm làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trở lên, sau đó chuyển sang công việc khác có mức lương đóng BHXH thấp hơn, sẽ được lấy mức lương của số năm làm công việc nặng nhọc, độc hại (tương ứng với số năm tính bình quân quy định tại khoản 1 Điều 72 của Luật) để tính bình quân.

Sĩ quan, quân nhân chuyển ngành: Nếu mức lương đóng BHXH của những năm cuối trước khi nghỉ hưu thấp hơn so với những năm cuối trước khi chuyển ngành, họ sẽ được lấy tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của những năm cuối trước khi chuyển ngành để tính mức bình quân.

Có phụ cấp thâm niên nghề: Việc tính toán sẽ phức tạp hơn, tùy thuộc vào việc những năm cuối để tính bình quân có bao gồm phụ cấp thâm niên hay không, đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

Thời gian công tác ở cấp xã: Thời gian công tác ở cấp xã đã được tính hưởng BHXH, thời gian đóng BHXH theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP, và thời gian đóng của người hoạt động không chuyên trách cấp xã sẽ được tính là thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định.

Thời gian công tác trước 01/01/1995 không hưởng lương: Nếu người lao động có thời gian công tác trước năm 1995 mà không được hưởng tiền lương, sinh hoạt phí (được trả thù lao bằng công điểm hoặc lương thực như giáo viên mầm non, chủ nhiệm hợp tác xã có quy mô toàn xã,..), thì thời gian này sẽ không được tính vào mức bình quân tiền lương.

Cách tính đối với người lao động theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định: Đối với nhóm đối tượng này, mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH sẽ được tính trên toàn bộ thời gian đóng BHXH.

Cách tính đối với người có cả hai giai đoạn đóng BHXH: Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ lương Nhà nước, vừa có thời gian đóng theo chế độ do người sử dụng lao động quyết định, thì sẽ tính bình quân tiền lương chung của các thời gian. Trong đó, phần thời gian đóng theo chế độ lương Nhà nước sẽ được tính bình quân theo quy định nêu trên.

Điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH

Để đảm bảo giá trị của tiền lương đã đóng không bị trượt giá theo thời gian, pháp luật quy định phải điều chỉnh tiền lương trước khi tính bình quân.

Đối với khu vực Nhà nước: Người tham gia BHXH trước 01/01/2016, tiền lương đã đóng được điều chỉnh theo “mức tham chiếu” tại thời điểm hưởng chế độ. Người tham gia từ 01/01/2016 trở đi sẽ được điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

Đối với khu vực ngoài Nhà nước: Tiền lương đã đóng BHXH được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ. Hệ số điều chỉnh này được BHXH Việt Nam xác định và công khai hằng năm dựa trên số liệu do Cục Thống kê, Bộ Tài chính cung cấp./.

a. Người bắt đầu tham gia BHXH trước ngày 01/01/1995 sẽ được tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Ví dụ: Ông A tham gia BHXH từ năm 1990 và sẽ nghỉ hưu vào tháng 12/2025. Trong 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu, mức lương của ông như sau:

  • 2021: 8 triệu đồng/tháng

  • 2022: 8,5 triệu đồng/tháng

  • 2023: 9 triệu đồng/tháng

  • 2024: 9,5 triệu đồng/tháng

  • 2025: 10 triệu đồng/tháng

– Mức bình quân tiền lương 5 năm cuối = (8 + 8,5 + 9 + 9,5 + 10)/5 = 9 triệu đồng/tháng.

– Tỷ lệ hưởng của ông A:

  • 20 năm đầu tiên: được hưởng 45%

  • 16 năm tiếp theo (36 – 20 = 16): mỗi năm thêm 2% → 16 × 2% = 32%

Tổng cộng: 45% + 32% = 77%, nhưng mức tối đa là 75% → tỷ lệ hưởng lương hưu là 75%.

Mức lương hưu của ông A = 9.000.000 * 75% = 6.750.000đ/tháng.

Cách tính mức lương hưu bình quân 5 năm cuối

b. Cách tính lương hưu bình quân 5 năm cuối cho người có 02 chế độ tiền lương

Trường hợp người lao động có hai chế độ tiền lương là do người sử dụng lao động đóng và Nhà nước quy định thì vẫn áp dụng công thức tương tự.

Tuy nhiên, bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội đối với người hưởng hai chế độ tiền lương sẽ được tính theo bình quân của thời gian tham gia của cả hai chế độ.

Ví dụ: Ông Trần Bình (Hà Nội) đóng BHXH từ tháng 01/1998 đến tháng 12/2020 theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định. Đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định từ tháng 1/2020 và dự kiến nghỉ hưu vào tháng 1/2026.

Biết Ông Bình có bình quân tiền lương do nhà nước quy định là 20 triệu đồng/ tháng. Bình quân tiền lương tháng trong thời gian hưởng lương do người sử dụng lao động quyết định là 10 triệu đồng/ tháng.

Vậy khi nghỉ hưu, ông Bình được tính lương hưu như thế nào?

Giải đáp:

Như vậy, trong trường hợp của ông Trần Bình nghỉ hưu tháng 1/2026, ta có công thức tính các chỉ số áp dụng theo luật bảo hiểm xã hội mới nhất (có hiệu lực từ ngày 1/7/2025) như sau:

a) Thời gian tham gia BHXH của ông Bình

  • Từ 01/1998 đến 12/2020: 23 năm, đóng theo mức lương do Nhà nước quy định.

  • Từ 01/2021 – tháng 1/2026: thêm 6 năm, đóng theo mức lương do người sử dụng lao động quyết định

– Tổng thời gian đóng BHXH = 23 + 6 = 29 năm.

b) Tỷ lệ hưởng lương hưu

20 năm đầu tiên: được hưởng 45%.

Phần vượt quá 20 năm: 9 năm.

  • Mỗi năm tăng thêm 2%: 9 x 2% = 18%

– Tổng tỷ lệ hưởng lương hưu = 45% + 18% = 63%

c) Tiền lương bình quân

– Tiền lương bình quân với chế độ lương nhà nước: 20 triệu đồng/ tháng.

– Tiền lương bình quân với chế độ lương tư nhân: 10 triệu đồng/ tháng.

– Bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian = (20.000.000 * 23 + 10.000.000 * 6 )/29 = 17.931.034,4828

d) Lương hưu được hưởng hàng tháng

Lương hưu = 17.931.034,4828 * 63% =  11.296.551,7241/tháng.

Trên đây là những thông tin về cách tính lương hưu theo chế độ 5 năm trước khi nghỉ hưu tham khảo của Bảo hiểm xã hội điện tử eBH. Người lao động cần nắm rõ các quy định mới về cách tính lương hưu theo Luật BHXH mới nhất để có kế hoạch đóng BHXH hợp lý, đảm bảo quyền lợi tối đa khi về hưu. Đặc biệt, việc hiểu rõ cách tính lương hưu dựa trên mức bình quân tiền lương 5 năm cuối sẽ giúp người lao động đánh giá chính xác thu nhập sau khi nghỉ hưu và có kế hoạch tài chính phù hợp.


4. Ví dụ minh hoạ

Giả sử một lao động nữ đã đóng BHXH được 18 năm, và mức bình quân tiền lương đóng BHXH của người đó là 10 triệu đồng/tháng:

  • Vì nữ đã đóng hơn 15 năm → tỷ lệ hưởng = 45% + (18 − 15) × 2% = 45% + 3×2% = 51%

  • Mức lương hưu hằng tháng = 10 triệu × 51% = 5,1 triệu đồng/tháng

Nếu là lao động nam, đóng được 22 năm, mức bình quân tiền lương cũng 10 triệu:

  • Vì nam đã đạt 20 năm → tỷ lệ hưởng = 45% + (22 − 20)×2% = 45% + 2×2% = 49%

  • Lương hưu = 10 triệu × 49% = 4,9 triệu đồng/tháng


5. Giảm tỷ lệ nếu nghỉ hưu trước tuổi quy định

Nếu người lao động nghỉ hưu trước tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật, thì mức hưởng lương hưu sẽ bị giảm như sau:

 Mức lương hưu hằng tháng của đối tượng đủ điều kiện được tính như quy định trên, sau đó

+ Cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.

+ Trường hợp thời gian nghỉ hưu trước tuổi dưới 06 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm hưởng lương hưu, từ đủ 06 tháng đến dưới 12 tháng thì giảm 1%.

Mức lương hưu hằng tháng của nhà giáo trong cơ sở giáo dục mầm non có nguyện vọng nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường nhưng không quá 05 tuổi được tính như quy định trên, thời gian nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn thì không giảm tỷ lệ phần trăm hưởng lương hưu.


6. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu

Hiện nay, mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%, cứ mỗi năm đóng BHXH thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH (Luật BHXH 2014)

Tuy nhiên, theo Điều 68 Luật BHXH 2024 (có hiệu lực từ 01.7.2025)  quy định về trợ cấp một lần khi nghỉ hưu như sau:

Lao động nam có thời gian đóng BHXH cao hơn 35 năm, lao động nữ có thời gian đóng BHXH cao hơn 30 năm thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.

Mức hưởng trợ cấp một lần cho mỗi năm đóng cao hơn quy định tại khoản 1 Điều này bằng 0,5 lần của mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH quy định tại Điều 72 của Luật này cho mỗi năm đóng cao hơn đến tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của Luật này mà tiếp tục đóng BHXH thì mức trợ cấp bằng 02 lần của mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH quy định tại Điều 72 của Luật này cho mỗi năm đóng cao hơn số năm quy định tại khoản 1 Điều này kể từ sau thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật đến thời điểm nghỉ hưu.

Như vậy,  mức hưởng trợ cấp một lần cho mỗi năm đóng BHXH từ 01.7.2025 sẽ cao hơn tính bằng 2 lần của mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội kể từ sau thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật đến thời điểm nghỉ hưu.

Đánh giá post này

Liên hệ với chúng tôi

Mở Đóng
Gọi tư vấn
Yêu cầu gọi lại